BỆNH THÔNG LIÊN THẤT Ở TRẺ EM
10:57 |Ventricular septal defect (VSD), Communication inter ventriculaire (CIV)
* Mục tiêu:
1. Nêu được định nghĩa, dịch tễ và nguyên nhân của bệnh
thông liên thất (BTLT).
2. Nêu được giải phẩu bệnh và sinh lý bệnh (huyết
động) BTLT
3. Trình bày được đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
giúp chẩn đoán BTLT
4. Nêu được các biến chứng và tiên lượng của bệnh thông
liên thất (TLT)
5. Trình bày điều trị và phòng bệnh thông liên thất.
* Nội dung:
1. Đại cương
Bệnh tim bẩm sinh gặp khá
phổ biến khoảng từ 0.5 - 0.8% trẻ sinh ra còn sống trên toàn thế
giới. Các bệnh tim bẩm sinh thường gặp như thông liên thất (TLT), thông liên
nhĩ (TLN), tứ chứng Fallot (F4), còn ống động mạch (COĐM), trong đó đứng hàng
đầu là bệnh TLT chiếm 25-30%.
Ở Singapore, mỗi năm có
thêm 400 trường hợp mới trẻ sơ sinh mắc bệnh tim bẩm sinh. Còn ở Việt Nam hàng
năm, trung bình có thêm 16.440 trẻ sơ sinh chào đời mắc bệnh tim bẩm sinh.
BTLT làm ảnh hưởng nhiều
đến sức khỏe, sự phát triển thể chất và chất lượng cuộc sống của trẻ. Bệnh còn
có thể gây ra các biến chứng như chậm lớn, nhiễm trùng phổi tái đi lại, tăng áp
hệ động mạch phổi (TAĐMP) cố định, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn (VNTMNK), suy
tim ứ huyết,… Có thể đưa đến tử vong nếu không được điều trị thích hợp kịp
thời. BTLT còn ảnh hưởng đến việc học tập, sinh hoạt của trẻ và có thể ảnh
hưởng đến kinh tế, tinh thần và các sinh hoạt cuộc sống hằng ngày của phụ huynh
hay gia đình của bệnh nhi.
Điều trị nội khoa chỉ có thể hổ trợ tạm thời như ngăn
ngừa hay làm chậm tình trạng tiến triển tăng áp ĐMP dẫn đến đảo shunt hoặc điều
trị các biến chứng như nhiễm trùng, suy dinh dưỡng, suy tim,…Trong khi đó điều
trị ngoại khoa triệt để có thể nâng cao chất lượng cuộc sống tốt hơn cho trẻ.
Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà nẳng đã có phẩu thuật điều trị tim bẩm
sinh và kết quả cũng như về mặt kỹ thuật ngày càng tốt hơn.
Việc chẩn đoán sớm bệnh thông liên thất và phát hiện
kịp thời những biến chứng bệnh có vai trò hết sức quan trọng giúp định hướng
điều trị sẽ có hiệu quả. Do đó việc phát hiện triệu chứng lâm sàng giúp góp
phần chẩn đoán bệnh và phát hiện các biến chứng của BTLT ở trẻ em là hết sức
cần thiết, bên cạnh các khám xét cận lâm sàng. Việc phòng bệnh là có thể được
nhất là tác động các yếu tố ngoại lai.
2. Định nghĩa và sơ lược lịch sử của bệnh thông liên thất
2.1. Định nghĩa bệnh thông liên thất:
- Có nhiều định
nghĩa BTLT khác nhau nhưng tựu trung chủ yếu có bất thường về cấu trúc vách
liên thất và rối loạn huyết động học ít hay nhiều tùy kích thước lỗ thông và
luồng thông (shunt).
- Có sự bất thường cấu trúc ở tim trong thời kỳ bào thai
với hiện diện một hay nhiều lỗ thông ở vách liên thất, có thể tự đóng lại hay
dẫn đến giảm sức co bóp của tim, cần hay không cần thiết can thiệp ngoại khoa. Tổn thương này hoặc đơn thuần hoặc kết hợp làm tăng áp
động mạch phổi.
2.2.
Sơ lược lịch sử bệnh thông liên thất
- Roger mô tả đầu tiên bệnh TLT vào năm 1879.
- Vào năm 1898, Eisenmenger đã mô tả BTLT có tăng áp động mạch phổi và
tím tái.
- Đến năm 1954 Lillehei và đồng nghiệp đã điều trị bệnh TLT bằng thắt
vòng đai ở động mạch phổi. Năm 1961,
- W.Kirklin đã mỗ vá lỗ TLT lỗ nhỏ, tiếp đến vào năm 1969, ông đề ra
biện pháp thắt vòng đai động mạch phổi sau đó mổ ở lỗ TLT lớn có suy tim ở trẻ
nhỏ. Như vậy từ năm 1956 đến nay trên thế giới ở các nước tiên tiến đã và đang
điều trị ngoại khoa TLT ngày càng tiến bộ trong mổ tim hở hay bằng catheter.
Gần đây Việt Nam
cũng đã thực hiện được ở một số nơi như TP. HCM, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng…
3. Sơ lược đặc điểm
dịch tễ và nguyên nhân thông liên thất
3.1.
Dịch tễ
- Theo
thống kê của WHO tỷ lệ mắc BTBS ngang nhau, không phân biệt chủng tộc, màu da,
trình độ phát triển kinh tế và giới tính ở các nước trên thế giới. Bệnh gặp
khoảng 0.5 – 0.8 % trẻ sinh ra sống. Riêng bệnh TLT chiếm tỷ lệ cao nhất 25-30%
trong các bệnh tim bẩm sinh.
- Ở Âu Mỹ
TLT chiếm tỷ lệ 28%, thấp hơn là các BTBS khác.
- Châu Á:
+ Ở Saudi Arabia :
nghiên cứu của Alabdulgader A. A. A tỷ lệ TLT 39.5% cao nhất trong các BTBS. Nam và
nữ tỷ lệ gần tương đương nhau.
+ Ở Việt Nam :
Hoàng Trọng Kim và cộng sự: Nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Đồng I và II
(1985-1994), TP. HCM qua 5.442 trẻ mắc bệnh tim có 54% BTBS. Bệnh TLT đứng hàng
đầu với tỷ lệ 40% rồi tới F4 16%, TLN 13%,....
3.2.
Nguyên nhân bệnh thông liên thất
- Nguyên
nhân bệnh TLT thật sự còn chưa biết rõ.
- Tuy
nhiên người ta có đề cập tới 1 số yếu tố như do di truyền hay gia đình: cha mẹ
hay anh, chị em mắc bệnh tim bẩm sinh trong đó có bệnh TLT thì có nguy cơ mắc
bệnh cao hơn. Tương tự ở trẻ có hội chứng Down cũng có nguy cơ mắc bệnh TLT cao
hơn. Cha hoặc mẹ hay cả 2 nghiện rượu, thuốc gây nghiện thì trẻ cũng có nguy cơ
mắc bệnh cao hơn.
4. Sơ lược đặc điểm giải phẫu bệnh lý thông liên thất
Tổn
thương vách liên thất có thể một lỗ hay nhiều lỗ, tổn thương vách liên thất đơn
thuần hay phối hợp với các bệnh lý khác, tổn thương vách liên thất đơn thuần.
Vách liên
thất có hai phần chính đó là phần màng (phần trên) và phần cơ bè (phần dưới).
Tổn thương ở bốn vị trí thường gặp:
4.1.
Thông liên thất phần màng
Chiếm tỷ
lệ 80% trường hợp, lỗ thông ở ngay dưới van động mạch chủ.
4.2.
Thông liên thất phần cơ vách liên thất
4.2.1.
Thông liên thất phần cơ bè giữa
Chiếm tỷ
lệ khoảng 10% trường hợp, thường nhiều lỗ hơn là chỉ một lỗ.
4.2.2.
Thông liên thất phần cơ của buồng nhận máu từ tâm nhĩ xuống
Chiếm tỷ
lệ khoảng 5-8% trường hợp.
4.2.3.
Thông liên thất phần phễu
Chiếm tỷ
lệ khoảng 5% trường hợp, lỗ thông ở dưới vòng van động mạch chủ và động mạch
phổi



