Bệnh thoái hoá khớp

22:19 |

ĐẶT VẤN ĐỀ
    Thoái hoá khớp (THK) là quá trình lão hoá của các tổ chức sụn kèm theo những thay đổi phần xương dưới sụn và màng hoạt dịch, thường gặp ở người trên 50 tuổi, tỉ lệ 3 nữ/1 nam. Đặc trưng cơ bản của bệnh là đau, giảm vận động, cảm giác khô ở khớp. Bệnh diễn biến kéo dài, gây đau đớn cho người bệnh và có thể để lại các di chứng trên khớp gây tàn phế.THK cần được phát hiện sớm và điều trị đúng, kịp thời có thể hạn chế được tổn thương và duy trì chức năng của khớp, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi

ĐẠI CƯƠNG, DỊCH TỄ HỌC        
Mỹ: 40 triệu người bị THK 70 - 90 % người >75 tuổi có ít nhất một tổn thương khớp thoái hóa. Tỷ lệ THK gối mới mắc1% ở nữ >50 tuổi và nam >70 tuổi.
Pháp: THK gối chiếm 1/3 các bệnh THK và gấp 2 lần THK háng
Việt Nam: Bệnh viện E trong năm 2004 số bệnh nhân THK chiếm  20,25 % trong đó THK gối 9,07% trong tổng số bệnh nhân mắc các bệnh khớp khác điều trị nội trú. Bệnh viện Chợ Rẫy trong 3 năm số bệnh nhân vào viện THK chiếm 27,2 %

Phân loại THK: Nguyên phát và thứ phát ( do lão hoá & do bệnh)      Nguyên nhânTHK: Mức độ, tỉ lệ THK ở vị trí các khớp khác nhau ở từng người và chịu ảnh hưởng của các yếu tố:
- Tuổi: Tình trạng lão hoá của mô sụn
- Giới: Nữ
- Di truyền
- Bẩm sinh : Cấu tạo bất thường dị dạng về xương khớp
- Quá tải cơ học; béo phì
- Chế độ dinh dưỡng: thiếu và thừa
- Nghề nghiệp và thói quen
- Chấn thương, bệnh lý nội, ngoại khoa, các yếu tố về sinh hoá và chuyển hoá.

Tổn thương giải phẫu bệnh của THK:
*Bình thường: sụn khớp, đĩa đệm có màu ánh xanh, nhẵn bóng,ướt, cứng, chịu đàn hồi mạnh
*Khi tổn thương THK: có màu vàng nhạt, mờ đục
Gđ sớm:  - Tình trạng mất sụn khớp, đầu xương
               - Mô sụn mỏng, khô, gãy, mất tính đàn hồi
               - Xơ hoá phần xương dưới sụn
               - Mọc các gai, mỏ xương
    Gđ muộn: Màng hoạt dịch có tình trạng phản ứng viêm

TRIỆU CHỨNG VÀ CHẨN ĐOÁN
   - Đau khi vận động, giảm khi nghỉ ngơi
   - Hạn chế vận động
   - Phát tiếng kêu khi vận động, dấu hiệu phá dỉ khớp
   - Sưng, biến dạng, không nóng đỏ, có thể có dịch
  - Có thể tiến triển biến chứng nặng: cứng khớp, thoát vị đĩa đệm cột sống và tàn phế.
  - Tiến tiển trong thời gian dài, không bao giờ dẫn đến tình trạng dính khớp hoàn toàn
  - Các xét nghiệm sinh hoá, máu, dịch khớp đều bình thường. Không có dấu hiệu viêm
Chụp phim X quang có 3 dấu hiệu cơ bản:
    1. Khe khớp hẹp không đồng đều
    2. Xơ đặc xương dưới sụn
    3. Mọc gai xương, mỏ xương vùng diềm
Chụp CT scanner, MRI( tuỳ vị trí, tuỳ tình trạng bệnh):
    - Thoái hoá đĩa đệm nghi lồi, thoát vị đĩa đệm
    - Chẩn đoán sớm thoái hoá khớp háng
    - Vị trí khó thấy bằng chụp Xquang quy ước
Nội soi khớp (chủ yếu khớp gối) và sinh thiết: Hình ảnh thoái hoá của màng hoạt dịch:
    - Giảm sản hình lông của màng hoạt dịch
    - Sụn khớp không trơn nhẵn, loét, khô, nhạt màu
    - Có thể thấy các mảnh dị vật, sụn
    - Không thấy các dấu hiệu viêm nhiễm xung huyết, tăng sinh, tiết dịch
Phân loại thoái hoá khớp: Theo Kellgren lavrence
Độ 1 và 2 :   - Hyaluronate trong khớp bắt đầu bị đứt đoạn
                     - Sụn bắt đầu bị phá huỷ, mặt sụn gồ ghề
                     - Tiêu cốt bào xuất hiện, khe khớp hẹp dần
Độ 3: - Sụn trở nên nhám, tiêu cốt bào phá huỷ đầu xương
        - Đau khi cử động
        - Mảnh vụn xương trong khớp gây viêm bao khớp
        - Khe khớp hẹp < 3 mm
Độ 4: - Số lượng lớn sụn bị huỷ, mất hẳn tính đàn hồi
        - Ma sát xương làm đau đớn, đầu xương này chà xát đầu  xương kia làm biến dạng khớp và lệch trục thẳng

Thoái hoá theo vị trí
Khớp gối
Khớp háng
Khớp vai
Cột sống thắt lưng
Cột sống cổ
Các khớp khác : ngón tay, xương gót
Chẩn đoán
- Dựa vào tuổi, giới, nghề nghiệp, tiền sử
- Tuỳ vị trí khớp có các biểu hiện lâm sàng khác nhau : gối, háng, cổ, thắt lưng...
- Ba dấu hiệu đặc trưng của Xquang quy ước
- Các dấu hiệu nội soi, CT-scanner, MRI
- Các xét nghiệm gần bình thường  
- Cần phân biệt với các bệnh: gút, loãng xương, viêm khớp, hoại tử vô khuẩn, lao
Tiêu chuẩn chẩn đoán thoái hóa khớp gối theo ACR 1991:
* Đau khớp
* Gai xương trên XQ và / hoặc:
- Bệnh nhân  40 tuổi
- Cứng khớp buổi sáng  30 phút
- Tiếng lạo xạo ở khớp

PHÒNG BỆNH VÀ ĐIỀU TRỊ: Điều trị THK cần kết hợp giữa dự phòng và chữa bệnh bằng cách làm giảm hoặc loại bỏ các yếu tố thúc đẩy quá trình lão hoá.
Phòng và điều trị THK khớp giai đoạn sớm:
* Giáo dục cộng đồng,
* Phơi nắng
* Chế độ dinh dưỡng, vitamin và khoáng
* Giảm cân
* Tập luyện theo chỉ dẫn chuyên môn với nhiều mức độ khác nhau có thể gia tăng phạm vi vận động, trương lực, sức bền của khớp. Có thể vận động thụ động co duỗi khớp hoặc những bài tập tích cực thể dục nhịp điệu
(acrobic) và bài tập đối kháng, các bài tập cho từng vị trí khớp thoái hoá.
* Trị liệu: nhiệt, điện từ trường, kích thích điện qua da, tia lase, tắm
khoáng, đắp bùn nóng, siêu âm, phóng xạ...
* Châm cứu, thuốc nam
* Chỉnh hình bằng các dụng cụ, thiết bị xương
* Cố định, bất động

Sử  dụng các thuốc giảm  đau chống viêm
1. Các thuốc giảm đau : Aspirin, paracetamol...
2. Thuốc chống viêm nhóm COX1 : diclofenac, naproxen, tenoxicam, piroxicam...
3. Nhóm COX2 : meloxicam, nimesulid, celecoxib
4. Thuốc xoa ngoài : gel các loại( diclofenac, ketoprofen, piroxicam, salonpas) dầu cao, dầu xoa
Các thuốc điều trị cơ bản THK: Các thuốc làm chậm tiến triển của bệnh THK có tác dụng lên cơ chế bệnh sinh, cải thiện các triệu chứng đau và chức năng vận động của khớp :
 * Glucosamine sulfate ( Viartril.S, Cartisak, Lubrex... )
 * Chondroitin  sulfate ( Jointra F)
 * Diacerheine (Artrodar)
 * Inaponisiable davocat ( Piascledine )
Điều trị tại chỗ :
- Tiêm corticoide ổ khớp
- Tiêm acid hyaluronique (Hyruan,Hyasyn…)
- Rửa khớp : nội soi khớp gối
- Tái tạo màng hoạt dịch bằng a.osmic  
- Ghép tế bào sụn: Lấy tế bào sụn lành ( tự thân ), nuôi cấy  11-21 ngày, tiêm vào vùng tổn thương. Ghép sụn- xương, cấy mô sụn tự thân, tái sinh tế bào trung mô mầm vẫn còn là những hứa hẹn trong tương lai.
Điều trị ngoại khoa: Chỉ nên thực hiện khi điều trị nội khoa và phục hồi chức năng không mang lại kết quả
- Phương pháp chỉnh sửa khớp: cắt gọt, chỉnh trục và điểm tì của khớp
- Giải phóng dính khớp và làm cứng khớp ở tư thế cơ năng
- Thay khớp nhân tạo một phần hoặc toàn bộ: háng, gối, khuỷu, đốt sống, cổ chân , ngón
- Phẫu thuật lồi và thoát vị đĩa đệm bằng cắt vòng cung sau hay lấy phần thoát vị
Tuổi thọ của con người ngày càng tăng, tỷ lệ mắc các bệnh xương khớp như thoái hoá khớp, loãng xương...tăng lên theo tuổi. Việc phòng bệnh, phát hiện sớm, điều trị đúng, kịp thời, hạn chế các biến chứng gây hậu quả xấu, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi đang trở thành vấn đề thời sự được xã hội quan tâm.
BS.CKII.Nguyễn Thị Lực
Khoa xương khớp - Bệnh viện E


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.    Trần Ngọc Ân và CS.,(2000). Điều trị thoái hóa khớp và cột sống. Điều trị học nội khoa. Nhà xuất bản Y học. 212 - 224
2.    Nguyễn Thị Mộng Trang, Lê Anh Thư. Tình hình thoái hóa khớp tại khoa nội xương khớp bệnh viện Chợ rẫy ( 2/ 2001 - 2 / 2004 ). Hội nghị chuyên đề “ Bệnh thoái hóa khớp và cột sống”. Hà nội tháng 10 năm 2004.
3.    Mankin H.J.,Brandt K.D. Osteoarthritis. Textbook of Rheumatology. W.B. Saundes Company 14… Edition. Page 1369 – 1403, 1997.
4.    AAOS Home. New techniques to restore articular cartilage.
5.    J P Raynaud. Osteoarthritis và cartilage ( 2002 ) 10.

                                                


←Trở về  

                                                                       

Những tác nhân gây bệnh ung thư vú ở nam giới

09:27 |
       Số lượng bệnh nhân ung thư vú ở nam giới không nhiều như phụ nữ, mặc dù các yếu tố kích hoạt bệnh thì không khác nhau là mấy. Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, phần lớn các bệnh nhân nam bị ung thư vú ở giai đoạn khoảng 67 tuổi.

Tuổi tác là một trong những yếu tố gây nên bệnh ung thư vú ở nam giới. Tuy nhiên, có ba nguyên nhân khác, cụ thể là:

1. Phóng xạ
Những người đàn ông đã tiếp xúc với phóng xạ ở phần ngực có nguy cơ phát triển căn bệnh ung thư vú cao hơn so với những người đàn ông chưa bao giờ được tiếp xúc với phóng xạ.
Nghiên cứu “Ung thư vú ở nam giới trong số những người sống sót sau bom nguyên tử” được công bố trên Tạp chí của Viện Ung thư Quốc gia Hoa kỳ cho thấy rằng những người tiếp xúc với bức xạ bom nguyên tử ở Nhật Bản có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao hơn.

2. Hormone estrogen
Mức estrogen cao gây ra sự gia tăng trong phân chia tế bào vú. Tình trạng này làm tăng nguy cơ các tế bào bất thường có thể phát triển thành tế bào ung thư.
Tác nhân làm tăng estrogen ở nam giới bao gồm việc tiêu thụ thuốc tây, bệnh gan và hội chứng Klinefelter (một hội chứng rối loạn gen).
Béo phì cũng có thể dẫn đến mức tăng của estrogen, bởi vì các tế bào mỡ có thể chuyển đổi thành estrogen.

3. Di truyền
Gen BRCA1 và BRCA2 được biết là tác nhân gây ra bệnh ung thư vú trong một số trường hợp. Việc thừa hưởng gen này có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú ở nam giới.
Theo Viện Ung thư Quốc gia, một người có gia đình có tiểu sử mắc bệnh ung thư vú, có nguy cơ mắc ung thư vú từ 5-10%.
Hiệp hội Ung thư Mỹ ước tính rằng một trong số năm người đàn ông bị ung thư vú có họ gần với người đàn ông hay phụ nữ cũng đã từng bị ung thư vú.

Theo Hoàng Đặng
VTC

Xử trí khi trẻ co giật do động kinh

08:37 |

Đặt bé nằm ở nơi rộng rãi, đầu hơi nghiêng sang một bên, nới lỏng quần áo, tránh va đập cơ thể vào vật cứng. Không giữ trẻ chặt để kiềm chế cơn co giật. Đánh gió hay vắt chanh vào miệng bé có thể khiến động kinh nặng hơn.

Bác sĩ Lê Thị Khánh Vân, Trưởng khoa Thần kinh, Bệnh viện Nhi Đồng 2, TP HCM cho biết, động kinh là biểu hiện của sự bất thường chức năng não bộ.
Bệnh có thể xuất phát từ vô căn hoặc cũng có thể do các yếu tố khác như: u não, dị dạng mạch máu não, chậm phát triển, trẻ sinh non, tổn thương khi sinh, gia đình có người bị động kinh, chấn thương đầu, từng nhiễm trùng hệ thần kinh.
Cơn động kinh gây nhiều ảnh hưởng đến chức năng vận động của trẻ.

Cần phân biệt co giật do động kinh với co giật do những nguyên nhân khác, như sốt gây co giật, co giật kèm sốt do nhiễm trùng hệ thần kinh vì viêm não, viêm màng não; co giật do thiếu ôxy não, thiếu máu não, rối loạn chuyển hóa hoặc nhiễm độc. Trong các trường hợp này, cơn co giật thường dưới 5 phút, sau đó bé hoàn toàn tỉnh táo và không bị yếu liệt bộ phận nào trong cơ thể.

Để xác định bé co giật có phải do động kinh hay không, phụ huynh có thể đưa bé đến bệnh viện để được chẩn đoán bằng điện não đồ, chẩn đoán hình ảnh.

Theo bác sĩ Vân, trẻ mắc bệnh thường ngất trong giây lát kèm theo giật cơ. Các bộ phận thường co giật là tay, đầu, cổ. Một số bé đang cầm đồ vật thì đánh rơi trong vô thức, đầu gật nhẹ, ngón tay máy liên tục. Cũng có khi bé la hét, ói mửa hoặc tím tái thoáng qua. "Nếu người lớn không biết cách xử trí, người lớn có thể gây hại cho bệnh nhi", bác sĩ Vân nói.

Theo bác sĩ Vân, những điều cần tránh là thái độ hốt hoảng quá mức; tránh tụ tập quá đông quanh bé; không được cố đè để kiềm chế cơn co giật; không vắt chanh vào miệng, cạo gió, cạy răng hoặc chèn muỗng đũa vào miệng trẻ.

Khi bé bị lên cơn co giật, điều cần làm là đặt bé nằm ở nơi rộng rãi, đầu hơi nghiêng sang một bên. Bệnh nhi cũng cần được nới lỏng quần áo, khăn quàng cổ, tránh va đập cơ thể vào vật cứng.
Phụ huynh cũng cần ghi nhận đặc điểm của cơn co giật như thời gian co giật, kiểu co giật, biểu hiện của bé trong và sau cơn co giật. Đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất nếu trẻ co giật trên 10 phút, bệnh nhân không tỉnh, rối loạn nhịp thở.

Theo Tiến sĩ - bác sĩ Lê Văn Tuấn, Phó bộ môn Thần Kinh - ĐH Y dược TP HCM, trẻ bị động kinh cũng có thể có cuộc sống bình thường như trẻ khác. Điểm khác là do cơn động kinh xảy ra đột ngột nên phụ huynh cần phải có những biện pháp bảo vệ cần thiết.

Ở nhà: Mài bằng các cạnh nhọn của vật dụng trong nhà. Che chắn trước nơi có lửa, nước sôi. Tạo không gian thông thoáng. Nên ở cạnh khi trẻ tắm, bé lớn vẫn không nên cho tắm khi không có người lớn ở nhà. Không nên thiết kế cửa phòng tắm có chốt khóa bên trong. Trong phòng ngủ nên dùng gối an toàn tránh ngạt thở; tránh dùng giường tầng; nên cho trẻ ngủ giường thấp hoặc dưới sàn.

Ở trường: Thông báo cho thầy cô, bảo mẫu, y tế trường và tài xế biết bé có bệnh động kinh để tiện xử trí ban đầu và giúp các bé khác hiểu tình trạng bệnh của bạn để tránh kỳ thị. Trao đổi với y tế trường về những loại thuốc bé đang dùng.

Ở nơi công cộng: Luôn đội mũ bảo hiểm cho trẻ. Nên hỏi ý kiến của bác sĩ về khả năng có cho bé tự đi xe hay không. Khi đưa bé đến hồ bơi cần mang áo phao và giám sát liên tục. Không để bé đứng một mình ở những vị trí cao.
Bệnh động kinh cần được điều trị bằng thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ. Nếu điều trị sớm, trẻ có cơn động kinh có thể hồi phục sau thời gian dùng thuốc. Việc làm này giảm khả năng sa sút trí tuệ của các bé.
Theo VnExpress
* Mời gửi câu hỏi tư vấn sức khỏe, kinh nghiệm xử trí bệnh tại nhà ở đây.

Nguyên nhân và cách điều trị bệnh gan nhiễm mỡ

17:42 |
      Dưới đây là một số nguyên nhân và cách nhận biết bệnh gan nhiễm mỡ.
Gan nhiễm mỡ (GNM) là khi lượng mỡ tích tụ trong gan chiếm quá 5% trọng lượng của gan. Gan nhiễm mỡ thường kết hợp với các bệnh rối loạn chuyển hóa như tiểu đường, tăng huyết áp, béo phì, rối loạn lipid máu… Gan nhiễm mỡ có thể thấy ở bất kỳ những ai có lối sống thiếu vận động và ăn uống bất hợp lý, quá thừa năng lượng. GNM ở hầu hết các trường hợp chỉ là một triệu chứng do sự tích lũy mỡ quá nhiều tại gan. Tuy nhiên, 20% GNM có thể diễn tiến đến xơ gan.

Nguyên nhân gây GNM

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng GNM như suy dinh dưỡng, điều trị giảm cân, sử dụng một số loại thuốc amiodarone, methotrexate, diltiazem,  tetracycline, thuốc  kháng virut, glucocorticoids, tamoxifen…; Các bệnh đường ruột, nhiễm HIV, viêm gan C. GNM được coi là một căn bệnh xảy ra trên toàn thế giới và gặp ở đa số những người uống quá nhiều rượu và những người béo phì.

Dấu hiệu nhận biết GNM

Hầu hết các bệnh nhân không có triệu chứng và thường được phát hiện tình cờ bởi vì các xét nghiệm chức năng gan bất thường hoặc gan to hoặc siêu âm gan khi khám sức khỏe định kỳ.

Qua kết quả sinh thiết gan cho thấy có 3 loại GNM:

Gan thoái hóa mỡ đơn thuần: gan bị thâm nhiễm bởi chất mỡ, không kèm theo tình trạng viêm gan.

Viêm gan thoái hóa mỡ do rượu: ngoài tình trạng gan bị thâm nhiễm bởi chất mỡ, kèm theo tình trạng viêm gan, mô gan có thể bị sẹo hoặc bị xơ và tiền sử uống rượu nhiều.

Viêm gan thoái hóa mỡ không do rượu: kết quả sinh thiết giống loại trên, nhưng không có tiền sử uống rượu (hoặc uống rượu không đáng kể).

Việc điều trị GNM phụ thuộc vào nguyên nhân của nó và nói chung, điều trị GNM sẽ phục hồi nếu được thực hiện ở giai đoạn sớm.

Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quyết định trong điều trị

Ngoài việc dùng một số thuốc bảo vệ gan thì chế độ dinh dưỡng và lối sống lành mạnh sẽ đóng một vai trò quan trọng đặc biệt giúp phòng ngừa và điều trị GNM.

Trong dinh dưỡng điều trị, việc đầu tiên người bệnh cần phải thực hiện là:

Kiểm soát lượng carbohydrate (đường bột) ăn vào hàng ngày: nên tránh các loại thực phẩm, đồ uống chứa đường tinh chế, các loại bột ngũ cốc tinh chế. Sự lựa chọn tốt hơn là các loại ngũ cốc giàu chất xơ, các loại đậu, rau quả các loại.

Kiểm soát lượng chất béo ăn vào hàng ngày: loại bỏ hoàn toàn chất béo bão hòa (các loại mỡ động vật, trừ mỡ cá biển), sử dụng chất béo không bão hòa là các loại dầu thực vật như dầu ôliu, đậu lạc, dầu hướng dương…
Các loại trái cây và rau củ với nhiều màu sắc phong phú tốt cho người bị gan nhiễm mỡ (ảnh minh họa).

Sử dụng các chất chống ôxy hóa để đóng góp cho sức khỏe của tế bào gan: đó là các loại trái cây và rau củ với nhiều màu sắc phong phú.

Mỗi một người trưởng thành bị GNM kèm theo thừa cân béo phì thì mức tiêu thụ năng lượng trong một ngày chỉ nên từ 1.300 - 1.400 Kcal.

Cụ thể: lượng thịt, cá hàng ngày khoảng 150 - 200gr; lượng tinh bột: 300gr; dầu thực vật: 20 - 30gr.

Kiêng rượu, bia, thuốc lá.

Ngoài ra, nên kết hợp với tập thể dục đều đặn vừa sức tối thiểu 30 phút mỗi ngày. Tập ít nhất 5 ngày trong tuần.

Làm sao để phòng ngừa GNM?


Để tránh bị GNM, trước tiên, chúng ta cần có chế độ ăn hợp lý: ăn đa dạng, ăn chừng mực, ăn thực phẩm gần với thiên nhiên nhất; Vận động thể lực đều đặn, sống năng động nhằm duy trì cân nặng lý tưởng (nên biết chỉ số BMI của bản thân và BMI lý tưởng phù hợp để tự theo dõi tình trạng dư cân của bản thân); Hạn chế tối đa rượu bia; Cần tham vấn bác sĩ trước khi dùng thuốc để tránh những thuốc gây độc cho gan; Kiểm tra đường huyết, cholesterol và triglyceride máu định kỳ mỗi 6 tháng (hoặc theo hướng dẫn của bác sĩ tùy theo tình trạng bệnh lý của mỗi cá nhân).

Tóm lại: bệnh nhân GNM nên trao đổi  với bác sĩ dinh dưỡng trước khi bắt đầu bất kỳ loại chế độ ăn uống mới hoặc chương trình tập luyện. Chú ý năng lượng cá nhân và chế độ ăn uống phụ thuộc vào tuổi tác, chiều cao, cân nặng hiện tại, mức độ hoạt động, giai đoạn của bệnh GNM và sự hiện diện của các điều kiện sức khỏe khác như mắc các bệnh khác như: tiểu đường, cholesterol cao...
Theo các chuyên gia dinh dưỡng, người mắc bệnh GNM nên ăn thịt nạc. Ăn thêm các loại cá và hải sản nhưng tôm và cua biển cũng không nên ăn quá 1 lần/tuần. Với món trứng cũng chỉ nên ăn 2 quả/tuần. Nên hạn chế chất ngọt và chất béo vì các chất này khi thừa sẽ chuyển đổi thành mỡ dự trữ. Khi chế biến thức ăn, nên hạn chế các món chiên xào mà thay bằng những món nướng, luộc. Cần tránh các loại thức ăn chế biến từ gan, óc, cật, bộ đồ lòng gia súc hoặc từ sữa động vật như bơ, phô-mai; không nên ăn da các loại thịt heo, vịt, gà... Nên ăn nhiều rau xanh, trái cây và các loại thức ăn có chứa chất xơ, sợi như rau cải, gạo đỏ, khoai mỡ, khoai tây, cà rốt, ngũ cốc, các loại hạt, bánh mỳ lạt và bánh quy lạt. Các loại thức ăn không chứa năng lượng như tảo, rong biển, nấm cũng rất tốt với những người mắc bệnh GNM.

Theo BS. Lê Quang Hào (Sức khỏe và đời sống)

Ngừa sâu răng bằng dầu dừa

17:13 |
Dầu dừa có thể trở thành một “loại thuốc kháng sinh tự nhiên” chống lại sâu răng.

Các nhà khoa học thuộc Viện Công nghệ Athlone (Ireland) phát hiện rằng dầu dừa khi được xử lý với các enzyme trong một quá trình tương tự như tiêu hóa (không phải dầu dừa ở trạng thái tự nhiên), có thể tấn công vi khuẩn gây sâu răng.

Cụ thể, dầu dừa đã qua xử lý này có thể ngăn chặn sự tăng trưởng của vi khuẩn Streptococcus - nguyên nhân chính gây sâu răng.
Phát hiện này có thể giúp mở ra hướng sử dụng dầu dừa vào các sản phẩm chăm sóc răng miệng.
Theo TNO

Sớm phát hiện trẻ gặp vấn đề về thính lực

17:06 |
Trẻ em, đặc biệt là trẻ nhỏ, không phải lúc nào cũng có thể diễn tả bằng lời khi có điều gì sai. Mất thính lực không là ngoại lệ.
Viện Quốc gia về chứng điếc và các rối loạn giao tiếp khác (Mỹ) cho biết những dấu hiệu cảnh báo mất thính lực ở trẻ như sau: đối với trẻ sơ sinh, trẻ không có phản ứng khi được gọi tên hoặc đối với tiếng ồn lớn và không cố gắng bắt chước các âm thanh; khi được 2 tuổi, trẻ không phát ra những âm thanh vui tai hoặc bắt chước giọng nói của bạn; ở trẻ biết đi chập chững, trẻ không chơi được các trò chơi như ú òa hoặc đập tay vào nhau hoặc nói được các câu có ít nhất 2 từ; lên 3 tuổi, trẻ không có phản ứng trước các hướng dẫn hoặc các cụm từ đơn giản như “không phải bây giờ” hoặc “không được”.
Theo TNO

Mãn dục nam - dấu hiệu và cách điều trị

09:21 |

Tập thể dục tốt cho việc ngăn ngừa mãn dục nam.

Mãn dục nam là thuật ngữ để chỉ hậu quả của sự suy giảm nồng độ testosteron trong máu, dẫn tới suy giảm khả năng hoạt động tình dục, rối loạn cương dương, suy giảm sinh tinh và dưỡng tinh cũng như sức khỏe thể chất, tinh thần.

Bác sĩ Tuệ Thành cho biết, sinh lý sinh sản ở nam giới được điều khiển bởi các hoóc môn hướng sinh dục, trong đó vai trò quan trọng là testosteron. Đây là loại nội tiết tố tạo nên sự nam tính, với vóc dáng, cơ bắp, giọng nói, và cơ quan sinh dục phát triển, đồng thời kích thích các tế bào mầm nguyên thủy ở tinh hoàn tạo thành tinh trùng. Quá trình này liên tục từ tuổi dậy thì cho đến tuổi trưởng thành. Khi đến độ tuổi trung niên, hầu như mọi đàn ông đều phải trải qua một giai đoạn mãn dục. Thời điểm này nồng độ testosteron trong máu giảm, chức năng ống sinh tinh giảm.

Những biểu hiện mãn dục nam bao gồm:

- Giảm ham muốn tình dục
- Rối loạn cương dương - không giao hợp được.
- Tinh trùng yếu nên khó sinh con
- Có những rối loạn về hệ thống tim - mạch như huyết áp cao thấp bất thường, tim đập nhanh, mặt đỏ bừng, hồi hộp… rối loạn hô hấp; khó thở về ban đêm, ngáy to
- Loãng xương, rất dễ gãy xương ở những tư thế bất thường hoặc bị các chấn thương dù nhẹ
- Giảm thể tích và trương lực cơ, cho nên lười vận động vì dễ mỏi mệt; toàn thân teo tóp dần.
- Lượng mỡ cơ thể tăng nhất là béo bụng; da mất nước và nhăn nhúm, tạo ra các nếp nhăn
- Mất sự nhạy cảm của các phản xạ tâm thần: trầm cảm, thích cô độc, dễ tủi thân; rối loạn hệ thống tạo máu: hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu.
Người bệnh chỉ cần một triệu chứng về tình dục và 2 triệu chứng toàn thân là cần định hướng việc chẩn đoán về mãn dục nam. Tiêu chuẩn vàng để xác định mãn dục nam là lượng testosterone trong máu hạ thấp dưới mức bình thường (bình thường: 10 - 35 nanoml mỗi lít).

Các yếu tố thuận lợi đưa đến mãn dục nam gồm một số bệnh như đái tháo đường, suy tuyến yên, các khối u vùng tuyến yên - tinh hoàn, u tuyến thượng thận và các khối u ở các phủ tạng khác; tinh thần căng thẳng, stress, lo lắng, mất ngủ, ăn uống không điều độ, lười vận động thân thể; một số thói quen xấu: nghiện rượu, thuốc lá, ma túy…; dùng nhiều các loại thuốc có tính chất kháng androgen và dùng kéo dài (ví dụ dùng quá nhiều nội tiết tố estrogen…).

Để điều trị tình trạng này, một phương pháp được đánh giá cao hiện nay là sử dụng liệu pháp thay thế hoóc môn nam giới. Phương pháp này có tác dụng làm giảm các triệu chứng khó chịu và cải thiện chất lượng cuộc sống, không có rủi ro và đã được kiểm chứng qua các nghiên cứu lâm sàng và thực tế điều trị.

Trước khi thực hiện, cần làm các xét nghiệm như chức năng gan, chức năng thận, siêu âm tuyến tiền liệt.

Ngoài ra, đàn ông trung niên cũng cần tăng cường dưỡng chất, ăn uống, bổ sung dầu cá và ăn các loại cá như cá hồi, cá ngừ... là thức ăn giàu axit béo omega 3, giúp giảm mãn dục nam và tốt cho tim mạch. Bên cạnh đó, cần tăng cường trái cây, rau quả trong khẩu phần ăn hàng ngày, nhất là cà chua, bởi đây là loại quả giàu lycopene, rất hữu ích cho tuyến tiền liệt và hệ thống sinh sản nam giới.

Nam giới cũng nên sử dụng sản phẩm đậu nành giúp tăng cường ham muốn tình dục, không nên dùng các chất kích thích và thức uống nhiều cồn để giảm thiểu tình trạng khó chịu, mất ngủ, lo lắng. Thực phẩm và trái cây có trái màu đỏ cũng tốt cho nam giới tuổi trung niên.

Tăng cường vận động thể dục thể thao thường xuyên, tích cực tham gia các môn thể thể thao như chạy bộ, bóng bàn, cầu lông, bơi lặn, tennis… giúp cơ thể dẻo dai, các cơ bắp được săn chắc, ngăn ngừa xơ vữa động mạch, hạ cholesteron trong máu, nhằm kéo dài độ sung mãn của cơ thể.
Theo Sức khỏe và Đời sống

Tinh trùng - thủ phạm khiến đàn ông hiếm muộn

08:44 |
Nghiên cứu hơn 4.000 tinh dịch đồ tại các trung tâm điều trị vô sinh lớn ở TP HCM, Trung tâm nghiên cứu di truyền và sức khỏe sinh sản thuộc khoa Y, Đại học Quốc gia, cho kết quả hơn 85% có tinh trùng ít và yếu.
Tinh trùng càng ít càng yếu, khả năng vô sinh càng cao
Đại diện nhóm nghiên cứu, bác sĩ Hồ Mạnh Tường, Trung tâm nghiên cứu di truyền và sức khỏe sinh sản (CGRH), Khoa Y - Đại học Quốc gia, cho biết, chuẩn đánh giá tinh dịch đồ mới được trung tâm này kết hợp với hai trung tâm điều trị vô sinh lớn tại Việt Nam gồm IVF Vạn Hạnh, IVF An Sinh thực hiện từ năm 2010.
Đối tượng nghiên cứu là nam bệnh nhân khám và điều trị vô sinh hiếm muộn. Những người này lần đầu tiên được lấy tinh trùng để thử tinh dịch đồ.
"Kết quả cho thấy 85,44% người chồng trong các cặp vợ chồng đi khám hiếm muộn có bất thường về tinh dịch đồ. Tức khoảng 7 cặp vợ chồng đi khám hiếm muộn thì đến 6 trường hợp có bất thường", ông Tường nói.
Các bác sĩ trong nhóm nghiên cứu cũng cho biết, so với kết quả nghiên cứu cách đây hơn 10 năm, chất lượng và số lượng tinh trùng qua dịch đồ của đàn ông hiếm muộn đã giảm hơn 10%.
"Tỷ lệ tinh trùng hình dạng bình thường thấp thì khả năng thụ tinh càng giảm. Điều này dẫn đến xu hướng tăng tỷ lệ vô sinh nam do bất thường tinh trùng ở Việt Nam", một bác sĩ nói.
Các bác sĩ Trung tâm Nghiên cứu di truyền và sức khỏe sinh sản (CGRH), Khoa Y - Đại học Quốc gia cũng cho rằng cần có thêm các nghiên cứu ở Việt Nam để đánh giá về hiện tượng này và tìm hiểu về các nguyên nhân.
Bên cạnh đó, các trung tâm điều trị vô sinh ở Việt Nam cũng cần nghiên cứu định hướng chiến lược đầu tư về chẩn đoán và điều trị để đáp ứng với xu hướng này trong tương lai.
Theo Thiên Chương
VnExpress

Phát hiện gene ngăn di căn ung thư

08:26 |
     Các nhà khoa học Pháp đã phân tích 1 gene làm chậm sự lây lan của các khối u ác tính tuyến tụy, giúp mở ra hướng điều trị cho một trong những căn bệnh gây tử vong nhiều nhất.
Sau khi phát hiện ra gene được gọi là USP9X trong 1 công trình nghiên cứu về ung thư tuyến tụy ở chuột, nhóm nghiên cứu quốc tế đã phát hiện ra rằng nó cũng đóng 1 vai trò quan trọng trong cơ thể người.
“Chúng tôi nhìn vào các mẫu u và nhận thấy rằng những bệnh nhân có ít gene này sẽ tử vong nhanh hơn sau khi được phẫu thuật và những bệnh nhân bị tử vong do di căn cũng có mức protein thấp nhất”.
Gene này tìm thấy ở tất cả các tế bào trong cơ thể nhưng nó lại không hiện diện ở một số khối u”, nhà nghiên cứu David Tuveson cho biết.
Ba gene ức chế khối u tuyến tụy khác cũng đã được tìm thấy và sự thiếu vắng của một trong 3 gene này cũng “có thể gây ra di căn, mà có thể khiến những người bị ung thư tuyến tụy tử vong.
Phát hiện này có nghĩa rằng “chúng ta có thể đánh thức các gen bằng cách dùng thuốc”.
Nhà nghiên cứu Tuveson cho biết đã có các loại thuốc tương ứng như chưa tìm ra được chính xác là loại ung thư nào sẽ có tác dụng. “Chúng tôi đang đề xuất rằng những thuốc này sẽ sử dụng cho những bệnh nhân ung thư tuyến tụy”, nhà nghiên cứu Tuveson nói.
Ung thư tuyến tụy giết chết khoảng 96% nạn nhân của nó trong vòng 5 năm chẩn đoán, một trong những tỉ lệ sống sót thấp nhất trong số các bệnh ung thư. Đơn giản là vì chẩn đoán sớm bệnh này rất khó, vì bệnh thường được phát hiện chỉ sau khi nó đã di căn.
Theo Asiaone

Thực phẩm tốt - xấu cho bệnh viêm xoang

08:20 |
        Cơ thể mỗi người phản ứng theo cách khác nhau, nhưng có một vài sự liên kết giữa thực phẩm và bệnh viêm xoang.
 
Thực phẩm gây phản ứng dị ứng hay những thực phẩm kích thích sản sinh dịch nhầy hoặc các loại đồ uống làm mất nước là một số nguyên nhân hay gặp làm trầm trọng thêm tình trạng viêm xoang.

Sữa và các sản phẩm từ sữa

Bạn nên tránh các sản phẩm chế biến từ sữa khi bị bệnh viêm xoang bởi vì chúng có thể làm tăng sinh chất nhầy gây tắc mũi.

Chất nhầy đặc và sệt trong rãnh xoang có thể ảnh hưởng đến sự lưu thông khí và tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển.

Đồ ăn cay

Thực phẩm có thể gây chứng ợ nóng hoặc trào ngược a-xít cũng góp phần gây viêm xoang. Khi a-xít dạ dày và thức ăn đã được tiêu hóa một phần bị trào ngược lên cổ họng thì nó có thể gây ra vấn đề về tai, mũi và họng, bao gồm cả viêm xoang.

Có rất nhiều yếu tố gây viêm xoang song điều quan trọng là phải loại trừ khả năng các thực phẩm cũng đóng vai trò trước khi xem xét dùng thuốc hoặc phẫu thuật.

Ăn đêm

Nếu bạn có vấn đề về xoang mũi và lại có thói quen hay ăn đêm trong vòng 1 giờ trước khi đi ngủ thì có thể làm ảnh hưởng đến bệnh viêm xoang do hiện tượng trào ngược.

Khoang mũi có liên hệ với hệ tiêu hóa. Vì vậy khi bạn nằm và cảm thấy hiện tượng trào ngược từ dạ dày thì nó không chỉ xảy ra ở quanh khu vực amidan. Một số còn chảy xuống miệng và bạn sẽ cảm thấy có vị chua. Axít cộng với thức ăn đã được tiêu hóa một phần có thể bị đẩy ngược lên khoang mũi và gây viêm.

Đồ uống có cồn

Đồ uống có cồn có thể làm mất nước trong cơ thể. Thậm chí là bạn chỉ uống 1-2 cốc thôi nhưng chúng vẫn có thể làm cho chất nhầy trong mũi bạn đặc lại và làm sưng màng ở mũi và xoang.

Đồ uống có cồn làm mất nước vì chúng có tính lợi tiểu, khiến cơ thể mất các dịch cần thiết để làm tan chất nhầy và lưu thông. Hơn nữa, việc sử dụng đồ uống có cồn sẽ gây ra trào ngược axít, gây kích thích và viêm xoang.

Đồ uống có chứa cafein

Giống như đồ uống có cồn, cafein là một chất lợi tiểu và góp phần khử nước ở màng mũi.

Cà phê cũng có tính a-xít và thường được coi là tác nhân gây ra chứng ợ nóng. Bạn cũng nên tránh uống soda bởi chúng không chỉ chứa cafein mà loại đồ uống này còn có thể gây
đầy hơi dẫn đến trào ngược.

Trà và các loại đồ uống nóng

Một trong những cách điều trị tại nhà để giải tỏa khó chịu và dịch nhầy trong mũi là xông hơi khoang mũi bằng nước nóng hoặc hít thở hơi nóng bốc lên từ bát nước nóng (dùng khăn trùm qua đầu sẽ giúp hơi nóng không bị lan tỏa).

Tương tự như vậy, một tách trà nóng có thể coi như một “bể xông hơi mini” khi bạn đặt ngay dưới mũi. Chú ý không dùng loại trà chứa cafein hoặc có hương vị vì chúng có thể khiến bạn bị ợ nóng.

Nước

Khi bạn đang điều trị bệnh viêm xoang thì uống thật nhiều nước là một trong những khuyến cáo hàng đầu bởi nó giúp làm loãng dịch tiết, làm mềm chất nhầy và hỗ trợ dẫn lưu dịch.

Nước hoa quả cũng là đồ uống thường được khuyên dùng cho bệnh nhân viêm xoang, nhưng bạn cũng nên tránh loại nước quả có đường bởi đường và các chất phụ gia có thể làm các chất nhầy dày đặc hơn.

Theo MSN

Những cách tự nhiên để sớm có “tin vui”

08:19 |
           Nếu là do những nhân thực thể hay môi trường dưới đây, bạn hoàn toàn có thể cải thiện được khả năng thụ thai của mình.
1. Hạn chế sử dụng cafein
Một số nghiên cứu cho thấy những phụ nữ tiêu thụ hơn 300mg caffein mỗi ngày sẽ bị giảm khả năng thụ thai. Rất may là một ly cà phê cỡ trung bình chỉ chứa khoảng 50mg cafein, do đó chị em vẫn có thể nhâm nhi 1 ly cà phê vào buổi sáng.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng trà búp, trà xanh, sôcôla và một số loại sođa cũng chứa cafein. Do đó, cần tính toán để hạn chế tối đa lượng cafein được hấp thụ vào cơ thể.

Đặc biệt, với những phụ nữ đang muốn làm thụ tinh ống nghiệm thì ngưỡng tiêu thụ cafein cho phép còn thấp hơn nhiều. Chỉ cần 50mg cafein (tương đương với 1 ly cà phê) cũng đã có thể ảnh hưởng bất lợi đến tỷ lệ thụ thai ống nghiệm thành công.
2. Giảm cân nặng thừa
Béo phì có thể ức chế sự rụng trứng và làm thay đổi nồng độ các hoóc-môn. Hơn nữa, nó cũng dẫn tới nhiều nguy cơ sức khỏe như bệnh tiểu đường, bệnh tim và cao huyết áp. Vì vậy, béo phì cũng có tác động tiêu cực tới khả năng thụ thai và có thể dẫn tới các biến chứng trong thai kỳ. Hơn nữa, phụ nữ béo phì cũng ít khả năng thành công với việc điều trị vô sinh.
3. Tăng đủ cân
Chỉ số khối cơ thể BMI trong khoảng 18,5-24,9 được cho là bình thường và khỏe mạnh. Bất cứ ai có BMI < 18,5 thì đều được cho là quá gầy.
Phụ nữ quá gầy sẽ giảm đáng kể khả năng sinh sản vì ít có khả năng rụng trứng. Một số phụ nữ quá gầy còn bị mất kinh hoàn toàn, một số khác thì có chu kỳ kinh nguyệt không đều. Hiện tượng ra máu kinh hàng tháng không hoàn toàn có nghĩa là bạn có khả năng sinh sản tốt vì rất có thể ra máu kinh mà không rụng trứng.
4. Thử châm cứu
Tạp chí Fertility and Sterility số ra tháng 5/2006 đã đăng 2 nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thụ thai tăng lên đáng kể ở những phụ nữ được điều trị bằng châm cứu kết hợp với thụ tinh ống nghiệm. Nghiên cứu đầu tiên cho thấy phụ nữ được điều trị bằng châm cứu tăng gấp 2 lần khả năng thụ thai thành công. Nghiên cứu thứ 2 chứng minh châm cứu trước khi cấy phôi giúp tăng 50% tỷ lệ đậu thai khi thụ tinh ống nghiệm.

5. Đi bộ 30 phút mỗi ngày
Đi bộ khoảng 30 phút mỗi ngày là một bài tập đơn giản, không tốn kém song lại giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim, tiểu đường và những bệnh có thể ảnh hưởng không tốt tới khả năng thụ thai cũng như các biến chứng trong thai kỳ. Hơn nữa, luyện tập đều đặn giúp duy trì trọng lượng cơ thể bình thường, tăng tuần hoàn máu tới khung xương chậu và các cơ quan sinh sản. Do đó, đi bộ đều đặn 30 mỗi ngày giúp tăng khả năng thụ thai thành công ở phụ nữ.
 6. Vượt qua trầm cảm


Một nghiên cứu do các nhà khoa học tại Trường Y Harvard tiến hành đã cho thấy những phụ nữ tiến hành thụ tinh ống nghiệm song đồng thời cũng tham gia vào một chương trình kéo dài 10 tuần giúp cải thiện suy nghĩ đã tăng gấp 2 lần khả năng mang thai thành công.
7. Chế độ ăn lành mạnh
Để tối đa hóa cơ hội thụ thai và có thai kỳ khỏe mạnh thì phụ nữ nên ăn theo một chế độ ăn lành mạnh giàu ngũ cốc nguyên cám, đậu nành, rau, quả tươi, các loại hạt, dầu ăn có lợi cho sức khỏe như dầu ô liu, thịt nạc hay các loại cá béo như cá hồi, cá ngừ…
8. Kiêng rượu
Phần lớn chuyên gia sản khoa đều đồng ý rằng uống 1 hoặc 2 ly rượu mỗi tuần sẽ không ảnh hưởng tới khả năng mang thai song uống quá nhiều rượu rõ ràng là có tác động không tốt. Một nghiên cứu của các nhà khoa học Đan Mạch năm 2003 cho thấy uống 6-7 ly rượu mỗi tuần làm giảm khả năng thụ thai của phụ nữ.
9. Tránh xa thuốc lá
Hút thuốc lá gây tổn hại cho trứng, giảm khả năng thụ thai thành công và phụ nữ hút thuốc lá có thể bị mãn kinh sớm hơn vài năm so với người không hút thuốc lá. Hơn nữa, hút thuốc lá cũng có tác động tiêu cực tới nồng độ hormon do đó làm giảm khả năng sinh sản.

Phụ nữ hút thuốc lá cũng dễ bị sảy thai, gặp các biến chứng trong thai kỳ và thường sinh con nhẹ cân hơn. Do đó, những phụ nữ hút thuốc lá nên bỏ thuốc ngay hôm nay để tăng khả năng thụ thai.
Theo MSN
Trong khi một số chuyên gia tin rằng trầm cảm không gây ra tình trạng vô sinh thì vượt qua trầm cảm lại có thể giúp tăng khả năng thụ thai.